Trang chủ » Ứng dụng khoa học công nghệ tạo đà cho phát triển cây chè

Ứng dụng khoa học công nghệ tạo đà cho phát triển cây chè

(Ngày đăng: 18-03-2020 10:19:49)
Trồng chè từ lâu đã trở thành một nghề mang lại thu nhập khá cho nhiều nông hộ tại Bắc Kạn. Vì thế, trong thời gian qua, tỉnh đã tăng cường việc ứng dụng khoa học công nghệ nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế từ cây trồng này...
Phiêng An II, xã Quang Thuận (Bạch Thông) là một trong những thôn điển hình trong phát triển kinh tế từ cây chè. Thôn có hơn 10 hộ gia đình thì tất cả đều trồng chè và coi cây chè là cây sản xuất chính. Diện tích chè trong thôn có hơn 4ha, trong đó, chè cao sản (chè cành là hơn 2ha). Trung bình mỗi hộ trồng 0,2 - 0,4ha, mỗi nhà một năm thu hơn 2 tạ chè khô. Với giá chè dao động từ 70.000 đồng đến 100.000 đồng/kg (với 5kg chè tươi được 1kg chè khô) đã mang lại cho bà con nguồn thu nhập khá ổn định. Tuy nhiên, có thể nói trồng chè với bà con phần nào vẫn mang tính tự phát nhất là khâu chế biến còn nặng tính thủ công trong khi ít người nắm vững quy trình canh tác sao cho chè ngon và sạch. Do đó đòi hỏi về nghiên cứu khoa học để phát triển cây chè đang là nhu cầu không chỉ của riêng người dân Phiêng An mà còn của những hộ trồng chè khác tại Bắc Kạn. 
 
 
Từ năm 2000, UBND tỉnh đã phê duyệt quy hoạch về phát triển cây chè tỉnh Bắc Kạn giai đoạn đến 2010. Trong đó, vùng chè được phát triển tập trung tại Bạch Thông, Ba Bể, Chợ Đồn, Na Rì, Chợ mới và thị xã Bắc Kạn. Ứng dụng khoa học công nghệ là một biện pháp quan trọng được tỉnh chỉ đạo thực hiện. Theo báo cáo của Sở Khoa học và Công nghệ Bắc Kạn, trong những năm qua, tỉnh đã triển khai nhiều chương trình, đề tài, dự án nhằm phát triển cây chè thành vùng sản xuất mang tính hàng hóa cung cấp cho thị trường. Đơn cử như đề tài "Xây dựng mô hình ứng dụng và chuyển giao công nghệ nhân giống, trồng mới thâm canh cải tạo nương chè già cỗi và chế biến chè tại các xã vùng thấp huyện Chợ Mới"; "Xây dựng mô hình trồng, thâm canh chè shan theo hướng tập trung tại huyện Chợ Đồn"; "Ứng dụng dây chuyền công nghiệp chế biến chè shan tuyết tại huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn"… 
 
 
Những nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ đã góp phần cải tạo 15ha bằng các giống chè địa phương; xây dựng 10ha mô hình chè shan tuyết theo hình thức tập trung tạo vùng nguyên liệu sản xuất. Quan trọng hơn, khoa học đã tập trung vào khâu tuyển chọn cây đầu dòng, xây dựng mô hình trồng chè shan tuyết bằng hình thức giâm cành, xây dựng vườn ươm giống tại chỗ. Người dân được tập huấn kiến thức về kỹ thuật chăm sóc, thu hái, chế biến chè. Nhờ đó, diện tích và chất lượng chè của tỉnh không ngừng được tăng lên. Diện tích chè shan tuyết hiện đạt hơn 1.000ha. 
 
 
Mô hình ươm giống, trồng cây chè tuyết mật độ dầy, cây thấp dễ thu hái tại xã Bằng Phúc (Chợ Đồn) của Sở Khoa học và Công nghệ đã cho hiệu quả cao.
Mô hình ươm giống, trồng cây chè tuyết mật độ dầy, cây thấp dễ thu hái tại xã Bằng Phúc (Chợ Đồn) của Sở Khoa học và Công nghệ đã cho hiệu quả cao.
 
 
Tại Chợ Mới, có trên 1.000ha chè, trong đó 600ha là chè trung du tập trung ở các xã Quảng Chu, Như Cố và Thanh Bình; 700 ha chè Shan tuyết trồng nhiều ở vùng phía Đông gồm Bình Văn, Yên Hân, Yên Cư còn lại là giống chè hạt. Những diện tích chè già cỗi, thông qua ứng dụng nghiên cứu khoa học về cải tạo, đã được thay thế bằng một số giống chè trung du chất lượng cao với giống chè Phúc Vân Tiên hoặc đưa vào trồng các giống chè cành, như: Lai 1, Lai 2, chè 777. Còn tại Bằng Phúc (Chợ Đồn), cây chè shan tuyết đặc sản đã được phát triển mạnh. Thay vì phụ thuộc vào thu hái chè từ những cây chè cổ thụ thì giờ chè tuyết đã được ươm giống, trồng rộng rãi, cây thấp dễ dàng thu hái mà chất lượng không giảm…
 
 
Như vậy, khoa học công nghệ đã góp phần tạo nền tảng cho quy hoạch, ổn định nguồn giống cũng như chất lượng cho vùng chè của tỉnh. Tuy nhiên, khâu còn yếu chính là việc nghiên cứu ứng dụng công nghệ sản xuất chè sạch, công nghiệp chế biến và tạo thương hiệu cho sản phẩm. Nhiều tỉnh đã có những thương hiệu chè tuyết shan đặc sản nhưng với chè shan tuyết Bằng Phúc thì điều này vẫn chưa được khẳng định. Hợp tác xã Thiên Phúc ra đời nhằm phát triển thương hiệu chè tuyết Bằng Phúc nhưng vẫn loay hoay tìm lối ra. Sản phẩm chè vì thế dễ bị làm nhái, bị ép giá không đem lại hiệu quả kinh tế đích thực cho người trồng. Trong khi đó, cũng tại Bằng Phúc, một doanh nghiệp Đài Loan đầu tư trồng chè Ô long, có dây chuyền chế biến hiện đại lại ăn nên làm ra khi sản phẩm chỉ để xuất khẩu. Đối với những diện tích chè khác tại Ba Bể, Chợ Mới… khâu chế biến vẫn còn lạc hậu cũng như thiếu nhận thức đầy đủ về bảo hộ thương hiệu…
 
 
Nhận định về vấn đề này, Tiến sĩ Đỗ Tuấn Khiêm- Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Bắc Kạn cho biết, tiềm năng với cây chè của tỉnh chính là chè shan tuyết đang mở rộng tại các xã vùng cao của Chợ Đồn, Ba Bể, Chợ Mới. Ngành khoa học rất muốn và khẳng định có thể xây dựng được thương hiệu được bảo hộ cho chè tuyết Bắc Kạn. Tuy nhiên, để duy trì thương hiệu thì cần vùng sản xuất nguyên liệu tập trung cũng như có hướng chế biến công nghiệp chứ không thể làm manh mún như hiện tại. 
 
 
Hiện tại, với nghiên cứu về cây đầu dòng cũng như công nghệ ươm thì ngành khoa học công nghệ bảo đảm cung cấp đủ nguồn giống cây chè tuyết. Vấn đề đặt ra chính là cần sự vào cuộc của doanh nghiệp để xây dựng các nhà máy chế biến quy mô; đóng gói đạt yêu cầu. Trước đây, ngành khoa học cũng từng hỗ trợ một doanh nghiệp tại Chợ Mới xây dựng một dây chuyền chế biến chè công suất 01 tấn chè tươi/ngày. Nhưng vì nhiều lý do, không cạnh tranh nổi nên doanh nghiệp này đã bỏ không làm tiếp. Đây là điều cần được lưu tâm tìm hiểu khắc phục trong việc phát triển công nghiệp chế biến chè tại Bắc Kạn. Tiến sĩ Đỗ Tuấn Khiêm cho biết thêm, chất lượng chè tuyết từ cây giống được ươm trồng sau 3 năm cho thu hoạch không thua kém gì thương hiệu chè tuyết Tủa Chùa (Điện Biên) hay Tà Sùa (Sơn La) là điều rất quý. Ngành khoa học cũng sẵn sàng hỗ trợ doanh nghiệp về công nghệ cũng như dây chuyền chế biến./.